Nhận diện tượng A Di Đà: ngồi định ấn hay đứng tiếp dẫn, Tây Phương Tam Thánh và cách phân biệt với Thích Ca
Trả lời ngắn: tượng A Di Đà có hai dạng phổ biến. Dạng ngồi kiết già, hai tay đặt trên lòng kết Di Đà định ấn, ngón trỏ cong chạm ngón cái thành vòng. Dạng đứng tiếp dẫn, một tay buông xuống như đưa ra đón, tay kia đặt trước ngực, có khi cầm đài sen. Khi đi thành bộ ba Tây Phương Tam Thánh, A Di Đà ở giữa, Quán Thế Âm và Đại Thế Chí đứng hai bên. Nhìn ấn tay và đài sen là phân biệt được với Thích Ca.
Tượng A Di Đà có mặt ở hầu khắp chùa Việt, trên bàn thờ Phật tại gia, và trên rất nhiều mặt đeo tuổi Tuất, Hợi. Biết nhận diện giúp chọn đúng tượng và hiểu được ý của từng tư thế.
Dạng ngồi: Di Đà định ấn
Tượng A Di Đà ngồi thường kết một ấn thiền định có nét riêng: hai bàn tay ngửa chồng lên nhau trên lòng, hai ngón trỏ cong lại, đầu ngón chạm vào đầu ngón cái, tạo thành hai vòng tròn nhỏ cạnh nhau. Ấn này thường được gọi là Di Đà định ấn, gặp nhiều trong tượng Nhật và tượng Trung Hoa.
Nhiều tượng A Di Đà ngồi ở Việt Nam kết ấn thiền định thông thường, hai bàn tay chồng lên nhau, hai đầu ngón cái chạm nhau, không cong ngón trỏ. Khi ấy, chỉ nhìn tay thì khó phân biệt với tượng Thích Ca ngồi thiền; phải nhìn thêm bộ tượng đi kèm hoặc đài sen.
Truyền thống Nhật còn có cả một hệ thống chín ấn của A Di Đà, ứng với chín phẩm vãng sinh mà kinh Quán Vô Lượng Thọ nói tới. Hệ thống này ít gặp ở Việt Nam, nhưng giải thích vì sao tượng A Di Đà Nhật có nhiều cách để tay khác nhau.
Dạng đứng: Phật tiếp dẫn
Tượng A Di Đà đứng gợi hình ảnh ngài đến đón người lâm chung về cõi Cực Lạc. Tư thế phổ biến ở Việt Nam và Trung Hoa: tay phải buông xuống bên hông, lòng bàn tay mở hướng ra trước như đưa tay đón; tay trái đặt trước ngực, có khi nâng một đài sen nhỏ. Tượng thường đứng trên toà sen, dáng hơi nghiêng về trước.
Dạng này có tên riêng là Phật A Di Đà tiếp dẫn, rất hay gặp trong nhà tang lễ, phòng hộ niệm, và trên bàn thờ của gia đình có người lớn tuổi. Ý nghĩa của nó là sự đón nhận, không phải sự ra đi; nhiều gia đình đặt tượng này để người già thấy yên lòng.
Tây Phương Tam Thánh
Bộ ba Tây Phương Tam Thánh gồm A Di Đà ở giữa, hai bên là hai vị Bồ Tát:
- Quán Thế Âm: nhận ra nhờ hình một đức Phật nhỏ trên mũ, thường cầm bình nước cam lộ hoặc nhành dương liễu, có khi nâng đài sen.
- Đại Thế Chí: nhận ra nhờ chiếc bình báu nhỏ trên mũ, tay thường chắp lại hoặc cầm hoa sen.
Đại Thế Chí là Phật bản mệnh của tuổi Ngọ theo cùng tục dân gian. Như vậy trong một bộ Tây Phương Tam Thánh có ba vị gắn với ba nhóm tuổi trong danh sách tám vị: A Di Đà với Tuất, Hợi; Quán Âm nghìn tay với Tý (một hình thức khác của Quán Âm); Đại Thế Chí với Ngọ. Đây là sự trùng hợp thú vị, nhưng tục Phật bản mệnh không xuất phát từ bộ tượng này.
Ở nhiều chùa miền Bắc, có một hàng tượng A Di Đà Tam Tôn trên thượng điện. Tranh Tây Phương Tam Thánh cũng rất phổ biến trên bàn thờ Phật tại gia.
Bảng phân biệt với các tượng Phật dễ nhầm
| Tượng | Ấn tay hoặc tư thế đặc trưng | Dấu hiệu đi kèm |
|---|---|---|
| A Di Đà | Di Đà định ấn; hoặc đứng, một tay buông đón | Đài sen trên tay, đi cùng Quán Âm và Thế Chí |
| Thích Ca | Xúc địa ấn, tay phải chạm đất; thuyết pháp ấn | Đi cùng Ca Diếp và A Nan, hoặc Văn Thù và Phổ Hiền |
| Thích Ca sơ sinh | Đứng, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất | Dáng em bé, thường đứng trong chậu tắm |
| Dược Sư | Tay cầm bình thuốc hoặc tháp | Đi cùng Nhật Quang và Nguyệt Quang Bồ Tát |
| Đại Nhật | Trí quyền ấn hoặc Pháp giới định ấn | Đội mũ báu, đeo trang sức |
A Di Đà theo phong cách từng nước
Tượng Đại Phật bằng đồng ở Kamakura, Nhật Bản, là một pho A Di Đà ngồi ngoài trời, hai tay kết Di Đà định ấn rất rõ; đây là ví dụ dễ tìm ảnh nhất để làm quen với ấn này. Tượng Trung Hoa và Việt Nam hay có dáng đứng tiếp dẫn, áo phủ kín hai vai, nếp áo mềm. Tranh Tây Tạng vẽ ngài thân màu đỏ, hai tay đỡ bình bát trên lòng.
Biết những khác biệt này giúp không ngạc nhiên khi thấy cùng là A Di Đà mà mặt đeo nhập từ mỗi nơi một kiểu. Không kiểu nào đúng hơn kiểu nào; mỗi kiểu trung thành với truyền thống điêu khắc của nó.
Trên mặt đeo nhỏ
Mặt A Di Đà cho tuổi Tuất, Hợi thường là tượng ngồi trên toà sen, vì bố cục gọn. Lỗi hay gặp là dùng chung khuôn với tượng Thích Ca ngồi thiền, chỉ đổi tên trên hộp. Không phải lỗi nghiêm trọng, nhưng nếu muốn đúng hình tượng thì nên tìm mặt có ngón trỏ cong rõ, hoặc có đài sen.
Mặt khắc A Di Đà đứng tiếp dẫn thì ít hơn, thường gặp ở mặt kim loại. Mặt này hợp với người lớn tuổi muốn mang theo ý nghĩa của sự đón nhận.
Gương mặt từ hoà
Dù tư thế nào, tượng A Di Đà đẹp thường có gương mặt tròn đầy, mắt khép hờ nhìn xuống, môi thoáng nụ cười. Thợ giỏi làm được vẻ từ hoà ấy dù tượng chỉ cao vài phân. Khi chọn, đây là điều nên nhìn đầu tiên, trước cả chất liệu.
Ai muốn so các mẫu ngồi và đứng có thể xem các mẫu tượng A Di Đà trên Vật Phẩm Phong Thủy, chú ý ấn tay và vẻ mặt trong ảnh chụp thật.